Home

130211resingationTiên tri về các Đức Giáo Hoàng cuối cùng của Thánh Malachi

Lời ngỏ: Nhân việc Giáo hội đang bầu một vị Giáo hoàng mới, MLCN giới thiệu bài dịch về lời tiên tri của thánh Malachi về các Đức Giáo Hoàng thời cuối. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Kitô thì không có gì phải sợ và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: “Đừng sợ!”. Vì lời tiên tri là của một Giám mục đã được Giáo hội phong thánh, vì thế MLCN phổ biến để quý vị hiểu biết thêm, mỗi người hãy cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.

Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O’Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo.

Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma thứ thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế.

Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng sau này – từ Đức Giáo Hoàng Innocent II cho tới thời kỳ tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu “Thánh Phêrô thành Rôma”.

Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô II làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là “từ một người đàn ông nhỏ”. Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là “người đàn ông nhỏ”. Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý của bang Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là “Hoa hồng của Umbria”.

Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm ngạc nhiên người ta. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.

10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG

1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Lửa Cháy”, tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.

2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Tôn Giáo Tiêu Tàn”, tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.

3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Đức tin sắt son”, tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới.

4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Mục tử thiên thần”, tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng  trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.

5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Chủ chăn và thuỷ thủ”, tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một “thuỷ thủ rao giảng” bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là “biển cả”.

6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Hoa của các loài Hoa” tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng 15 năm. Danh hiệu của ngài là ba bông hoa huệ Iris.

7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 – 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “trăng bán nguyệt”, tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội  trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình “trăng bán nguyệt”.

8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Nhật thực” hay cũng còn có nghĩa là “Mặt trời lam lũ”. Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ.

9. Đức Giáo Hoàng kế Đức Giáo Hoàng chót, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Ô-liu rực rỡ”. Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Olive. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là “những người của hòa bình”. Thánh Benedict đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ.

10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi “Phêrô thành Rôma”. Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: “trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố trên 7 đồi (Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân”.

Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi. (trích Mạng Lưới Cầu Nguyện)

Bỏ ngoài tai những tin đồn vô căn cứ của các tiên tri giả

Nhân biến cố Đức Thánh Cha Biển Đức XVI từ chức, trong mấy ngày qua, nhiều tin đồn đã được đưa ra trên Internet về việc chọn Đức Giáo Hoàng mới, gây hoang mang cho nhiều tín hữu khi vô tình đọc được những tin này qua emails.Cụ thể , các “tiên tri” giả này đã phóng đại tưởng tượng của họ về Tân Giáo Hoàng sẽ là người thế này thế nọ và còn “tiên tri” rằng ngày tận thế đã gần kề và quỉ vương sẽ ra đời !

Liên quan cụ thể đến điều họ gán cho ngôn sứ Malachi đã “tiên tri” về tân Giáo hoàng, xin được minh xác như sau:

1- Tiên tri hay Ngôn sứ Malachi (hay Malakia = Sứ thần của Ta) là ngôn sứ cuối cùng trong thời Cựu Ước, sống vào khoảng thế kỷ thứ V trước Chúa Giáng Sinh. Sách của ngài chỉ có 3 chương được chia làm hai phần nói về tình thương của Chúa đối với dân Israel và phê phán giới tư tế đã không chu toàn trách nhiệm tế lễ của họ.

Cụ thể, qua miệng ngôn sứ, Thiên Chúa nhắc lại tình thương của Người cho Israel mặc dù dân này luôn phản bội, hoài nghi tình thương của Chúa: “Ta đã yêu thương các ngươi, Đức Chúa phán,thế mà các ngươi nói: Ngài yêu thương chúng con ở chỗ nào ?” ( Ml 1:2)

2- Không những dân Israel bội bạc với Chúa, sống xa đường lối của Người, mà hàng tư tế Israel cũng không chu toàn nhiệm vụ tế lễ của họ cách xứng hợp khiến Chúa đã phải quở trách họ như sau: “Ta chẳng hài lòng chút nào về các ngươi, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán, và Ta chẳng ưng thuận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng.” ( Ml 1:10)

Như thế cho thấy là ngôn sứ Malachi chỉ nói về dân Do Thái phản bội tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho họ, cũng như nói về hàng tư tế Do Thái đã không chủ trọng thi hành nhiệm vụ tế lễ của họ mà thôi. Tuyệt nhiên, ngôn sứ Malachi không tiên tri điều gì về các thế hệ tương lai khiến người ta có thể dựa vào để tiên đoán về những việc sẽ xảy ra trong Giáo Hội sau này.

Có chăng là những lời “tiên tri” mà người ta gán cho Thánh Malachy (1094-1148), Tổng giám mục Armagh, người đã có công canh tân phụng vụ Ái Nhĩ Lan dựa theo Phụng Vụ Rôma cũng như đã góp phần tái lập kỷ luật của Giáo Hội và đưa các tu sĩ Dòng Xi-tô (Cistercian Monks) vào Ái Nhĩ Lan (Ireland).

Ngài mất năm 1148 trong Tu viện Clairvaux (Pháp) và ít năm sau được phong thánh. Lễ kinh ngài là ngày 2 tháng 11.

Sau khi ngài mất năm 1148, đến thế kỷ 16, người ta thấy xuất hiện những lời “tiên tri” gán cho ngài là tác giả. Những lời tiên tri huyền hoặc này nói về 111 vị Giáo Hoàng kế tiếp lên ngôi sau khi Đức Giáo Hoàng Celestine II qua đời năm 1144. Mỗi vị Giáo Hoàng kế vị đó đều được mang một biệt danh bằng tiếng Latinh . Nhưng cho đến nay, không một lời “tiên tri” nào của ai bịa đặt nói trên đã ứng nghiệm với các Giáo Hoàng nối tiếp lên ngôi sau Giáo Hoàng Celestine II như những lời “tiên tri “ huyền hoặc kia đã bịa đặt.

Nay nhân việc Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đột nhiên từ chức vì lý do sức khỏe, và trong lúc Giáo Hội sắp tiến hành thủ tục bầu Tân Giáo Hoàng lên thay thế, một số người giầu tưởng tượng và muốn làm “tiên tri” đã vội vin vào những lời tiên tri giả gán cho thánh Malachy, lưu truyền từ thế kỷ 16, để đưa ra những lời “tiên tri hoang đường” về Tân Giáo Hoàng sắp được bầu lên để kế vị Đức Thánh Cha Biển Đức XVI..

Chắc chắn đây là những lời “tiên đoán huyền hoặc” không có chút cơ sở giáo lý, Kinh thánh hay tài liệu căn bản nào của Giáo hội cho người tín hữu tin và hy vọng.

Do đó, là tín hữu chân chính, chúng ta chỉ nên cầu nguyện để Chúa Thánh Thần soi sáng, chỉ dẫn cho các Hồng Y sắp họp Mật Nghị (Conclave) để các ngài chọn đúng người Chúa muốn lên kế vị Đức Thánh Cha Biển Đức để cai trị Giáo Hội và chăn dắt toàn dân Chúa trong giai đoạn mới này mà thôi.. Vị tân Giáo Hoàng chắc sẽ không phải là người mà những “tiên tri giả” kia đang loan truyền. Nghĩa là chúng ta phải bỏ ngoài tai mọi lời “tiên tri giả” mọi tin đồn vô căn cứ, mọi suy đoán theo khôn ngoan của người đời quanh việc chọn Tân Giáo Hoàng cho Giáo Hội.

Đây phải là công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hiện diện và dẫn dắt Giáo Hội của Chúa Kitô từ thủa sơ khai ban đầu cho đến ngày này và còn mãi về sau cho đến ngày cánh chung.

Có thể nói : nếu không có Chúa Thánh Thần hiện diện và dìu dắt, thì Giáo Hội không thể trường tồn và huy hoàng như ngày nay được, vì có quá nhiều “sóng gió” làm nghiêng ngửa Con Thuyền Phêrô, chở Giáo Hội trong quá khứ..

Mặc dù có thời Giáo Hội đã sai lầm trong việc chọn các vị lãnh đạo cũng như sai lầm trong việc điều hành, nhưng Chúa Thánh Thần đã giúp Giáo Hội kịp sửa sai để trở nên Hiền Thê đích thực và trung tín của Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập và yêu thương Giáo Hội là Hiền Thê, là Thân Thể Nhiệm mầu của Người trong trần thế.

Vậy Chúng ta hãy sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Thần trong những ngày này để Người hướng dẫn Giáo Hội – cụ thể là các Hồng Y sắp nhóm họp, để các ngài chọn đúng Chủ Chăn mới cho Giáo Hội, đáp đúng nhu cầu rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng trong hoàn cảnh quá nhiễu nhương và thách đố của thế giới hiện nay. Chắc chắn Chúa Thánh Thần sẽ nâng đỡ và dẫn dắt Giáo Hội trong mọi lãnh vực để giúp Giáo hội chu toàn sứ mệnh mà Chúa Kitô đã trao phó.

Lm. Px. Ngô Tôn Huấn

Vị Giáo Hoàng cuối cùng hay Khởi đầu Kỷ Nguyên Mới?

Nguyễn Đức Sách2/17/2013 (http://vietcatholic.org/News/Html/102863.htm)

Theo Những Lời Tiên Tri của thánh Malachia

1. Từ ngày 12.2.2013 vừa khi Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 tuyên bố ý định từ nhiệm, những lời ‘Tiên tri’ về ngôi vị Giáo Hoàng lại tràn ngập tin tức và bài vở trên truyền thanh, truyền hình, trên báo chí, và nhất là trên internet.

Tất cả đều là những bài cũ, lặp lại luận điệu cũ. Tài liệu được nhắc tới nhiều nhất là quyển ‘Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng’ của thánh Malachia. Quyển nầy có 111 câu về 111 Giáo Hoàng và câu kết. Câu kết nầy đã gây hoang mang không ít, đặc biệt khi Đức Benedicto 16 đã là Vị Giáo Hoàng thứ 111 của Những Lời Tiên Tri.

Câu Kết đó là: “Trong cơn bách hại cuối cùng, Tòa Thánh Roma được trị vì bởi ‘Phêrô dân Roma’, Ngài chăn dắt đoàn chiên qua nhiều gian truân, do đó Thành Phố Bảy Đồi sẽ bị tàn phá, và Đấng Thẩm Phán đáng kính sợ sẽ phán xét dân Ngài. Hết.”

Nguyên văn: “In persecutione extrema S.R.E. sedebit Petrus Romanus, qui pascet oves in multis tribulationibus: quibus transactis civitas septicollis diruetur, et Judex tremedus judicabit populum suum. Finis.”

Câu trên đã được nhiều phe phái, đặt biệt những tổ chức chống Giáo Hội Công Giáo Roma, mặc tình giải thích, xuyên tạc, và phổ biến rầm rộ.

Đang khi đó, vì thường không tin vào những lời tiên tri bói toán, giới Công Giáo hầu như làm ngơ. Nhưng giáo dân bình thường thì ngày càng thêm hoang mang và giao động trước những tuyên truyền được coi là ‘nói có sách, mách có chứng’. [Sách lại do một ông Thánh Công giáo viết!].

* *

2. Quyển Sách Tiên Tri và Tác Giả.

– Phần Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng đã được in và phổ biến năm 1595 trong bộ Lịch sử Dòng Benedicto của Arnold de Wyon, [tên bộ sách là Lignum vitae, Ornamentum et decus Ecclesiae, với phần Tiên tri Prophetia S. Malachiae, Archiepiscopi, de Summis Pontificibus]. Bộ sách hiện vẫn còn.

Trong 111 Vị, mỗi Vị được Tiên báo bằng 2 hoặc 3 chữ, có 7 Vị được 4 chữ.

Trong bộ sách, bản văn Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng được ghi tác giả là một vị Tổng Giám mục người Ái nhĩ Lan (Irish) tên Máel Máedóc Ua Morgair, được la tinh hóa thành Malachia. Ông sống thời 1094 – 1148, và được chính thức phong thánh năm 1199. Vì vậy phần Tiên tri về Giáo Hoàng được cho là của Thánh Malachia.

– Theo bộ sách, câu đầu tiên được tiên tri để chỉ Đức Giáo Hoàng Celestino II, Giáo Hoàng năm 1143-1144.

Theo năm xuất bản 1595, thì sau năm 1595, Vị Giáo Hoàng đầu tiên được tiên báo là Đức Leo XI, Giáo Hoàng năm 1605, Vị thứ 78 trong 111 Vị.

– Nhiều trào lưu đã cố ý dựa vào khoảng cách giữa câu tiên tri thứ nhất (năm 1143) và năm in sách, 1595, mà cho rằng có sự bịa đặt của hậu sinh. Những người khác lại cho rằng tác giả Malachia là được gán ghép, nên không đáng tin. Nhiều người khác lại dựa vào Malachia đã được phong thánh mà cố quyết là Giáo hội không thể chối bỏ những lời tiên tri và những diễn giải (võ đoán) của chính họ. Và nhiều cáo buộc khác.

Sau đây là một số nhận định.

3. Giá trị Bản Văn.

– Trên nguyên tắc, khi một bản văn đã được phổ biến thì bản văn đó không còn lệ thuộc tác giả. Tự nó, bản văn có một giá trị độc lập, dầu tác giả của nó là ai.

Vì vậy, Thánh Malachia có phải là tác giả thực sự của 112 câu Tiên tri đó hay không, chuyện đó không quan trọng cho giá trị của Bản văn. Không cần nhiều lời.

Bản văn Tiên tri về 111 Giáo Hoàng, và câu kết, đã phổ biến từ năm 1595. Vậy thì chỉ tìm hiểu tính cách xác đáng của những câu Tiên tri đó kể từ năm 1595 tới nay. Không cần bận tâm phần trước.

– Từ sau năm 1595 tới nay, ta có 34 câu Tiên tri về những Vị sẽ nối tiếp nhau làm Giáo Hoàng Roma. Tính tới hôm nay, trước ngày 1.3.2013, đã trọn 34 câu cho 34 Vị Giáo Hoàng nối tiếp nhau lên ngôi trong vòng 408 năm qua, từ Vị lên ngôi năm 1605 tới Vị từ nhiệm ngày 28.2.2013.

– Với Câu Kết, có vẻ như Tác giả nói về Vị Giáo Hoàng thứ 112. Tuy nhiên, cách thức, văn phong, đều khác hẳn. Trong 111 câu trên, câu dài nhất là 4 chữ. Câu kết nầy lại gồm 27 chữ. Trong 111 câu trên, mỗi Vị Giáo Hoàng tương lai được tiên báo bóng gió bằng cách chơi chữ… Câu kết nầy lại chỉ gọi thẳng tên Vị Giáo Hoàng đang trị vì là Petrus Romanus, ‘Phêrô dân Roma’. Phêrô là tên của Vị Giáo Hoàng đầu tiên, do chính Đức Giêsu đặt, và chưa có Giáo Hoàng nào dám ‘lộng quyền’ tự chọn tên đó.

Như vậy, Câu Kết nầy không tiên báo về Vị Giáo Hoàng sẽ được chọn sau ngày 28.2.2013.

* *

4. Độ chính xác của Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng.

Trong 34 Lời Tiên Báo liên tục cho 408 năm sau khi phổ biến, dầu việc giải thích đôi khi lắc léo, hình như không có câu nào không giải thích được.

Các lời giải thích hầu hết dựa vào một hoặc hai đặc điểm của vị Giáo Hoàng tương lai. Các đặc điểm thường là Dòng họ, Nơi sinh, Huy hiệu, hoặc Chức vụ trước khi được bầu thành Giáo Hoàng. Thực ra, đây cũng chính là những đặc điểm để giới thiệu một nhân vật.

Thí dụ về các Vị gần đây nhất:

Đức Gioan XXIII, 1958-1963, đã được tiên báo: ‘Chăn chiên và Thủy thủ’: Pastor et Nauta. Thực ra, trước khi là Giáo Hoàng, ngài là Giáo chủ (chăn chiên) của thành phố nổi Venice (thủy thủ). Hơn nữa, trong khi ở Venice, Ngài thành lập Hội Đồng Đại Kết, với huy hiệu có Thánh giá và Chiếc tàu.

Đức Phaolô VI, 1963-1978, có huy hiệu với 3 bông Huệ. Huệ là loại hoa được giới tu sĩ quý trọng nhất. Ngài được Tiên báo là ‘Hoa của muôn hoa’: Flos Florum.

Đức Gioan Phaolô II, 1978-2005, đến từ giai cấp Lao Động của Cộng sản Đông Âu. Vì với cộng sản, Lao động trở thành giai cấp, và vì Ngài từ Đông Âu, nên được báo là ‘Từ Lao động của Mặt Trời’: De Labore Solis.

* *

5. Tính Chất tổng quát của các Lời Tiên tri.

Trước hết, cần xác định tính chất của Những Lời được coi là ‘Tiên Tri’.

Cách tổng quát, các Lời Tiên Tri gồm hai loại:

Loại Tiên tri có tính chất Tôn giáo: các Lời Tiên tri nầy được ghi nhận là do Đức Giáo Chủ Khai Đạo, hoặc do một số vị được Tôn giáo đó chính thức công nhận. Bên Công giáo có các Lời Tiên tri trong Sách Thánh (Cựu Ước và Tân Ước), hoặc do Đức Mẹ hiển linh… Loại nầy liên hệ trực tiếp tới lòng tin của tín hữu.

Loại 2 gồm tất cả mọi ‘Lời Tiên tri’ khác. Loại nầy không có tính chất tôn giáo, và không liên hệ trực tiếp, cũng không có giá trị đối với tôn giáo.

Nguồn gốc của những Lời Tiên tri nầy thường do những người tự cho mình có khả năng, có giác quan hoặc hiệp thông đặc biệt. Vì vậy, ta có đủ loại ‘Lời Tiên tri’, về mọi phương diện, mọi tầm cở, và nhất là đủ mọi cấp độ giá trị, đủ mọi cấp độ chính xác… do đủ hạng người. Ta có từ Trạng Trình, Nostradamus, Malachia, tới đủ loại tiên tri, bói toán, chiêm tinh, huyền bí, ngoại cảm, đồng bóng, thần giao cách cảm, vân vân và vân vân… kể cả những người thấy mình tình cờ đoán trúng vài sự kiện.

* *

6. Tính Chất Bản văn Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng.

Bản văn Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng không hề được Giáo hội Công giáo công nhận.

Tuy nhiên, vì sự chính xác, cũng như về tầm độ các sự kiện, đặc biệt vì tính liên tục trong thời gian dài suốt mấy trăm năm, Tác giả của Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng, tạm gọi theo thói quen là Thánh Malachia, phải được kể ngang hàng với hai Vị nổi tiếng là Nostradamus (1503-1566) và Đức Trạng Trình (1491-1585).

Tuy không biết chắc về Tác giả của Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng, nhưng để đạt được trình độ thông thiên đó, Nostradamus và Đức Trạng Trình đã tinh thông về Khoa Chiêm Tinh.

* *

7. Khoa Chiêm Tinh phương Tây.

Vì Malachia là người phương Tây, ta nói sơ về Khoa Chiêm Tinh phương Tây.

Khoa Chiêm Tinh nghiệm đoán ảnh hưởng của ‘vận hành các tinh hệ trong Vòng Hoàng Đạo’ đối với trái đất, đối với nhân loại, và đối với cuộc sống của từng con người.

a. Vòng Hoàng Đạo: Theo tài liệu, cách đây gần 5.000 năm, dân Babylon đã chia vòng bầu trời quay quanh trái đất thành 12 phần bằng nhau. Các tinh tú trong mỗi phần lại được tưởng tượng thành một hình dạng riêng, gọi là tinh hệ, và theo đó mà đặt tên cho phần trời.

Ví dụ: tinh hệ Song Sinh trên bầu trời và hình ảnh tưởng tượng của con người.

Vòng Hoàng đạo gồm 12 Tinh hệ.

b. Mười Hai Kỷ Nguyên. Vận hành một vòng của Vòng Hoàng Đạo quanh trục Xuân phân được gọi là Năm Thiên văn. Năm Thiên văn dài bằng 25.920 năm của Trái đất.

Năm Thiên văn cũng được chia theo 12 phần, và được gọi là 12 Tháng Thiên văn, hoặc 12 Kỷ Nguyên. Một Kỷ Nguyên dài 2160 Năm Trái đất.

Tuy nhiên, vì các tinh hệ lớn nhỏ khác nhau, và vì không có ranh giới giữa các tinh hệ, nên các Kỷ Nguyên xê dịch giữa 1800 tới 2300 năm, thay vì 2160 năm.

Vì vậy, và cũng vì thời khoảng đó quá dài đối với đời sống từng con người, nên mỗi Kỷ Nguyên đã thường được đơn giản hóa thành 2000 năm.

Nói cách đơn giản, theo chiêm tinh phương Tây, hiện nay

Từ năm 2000 tới năm 4000 dl, là Kỷ Nguyên Bảo Bình.

2000 năm vừa qua là Kỷ nguyên Song Ngư, hai con cá.

Trước đây 3000 và 4000 năm là thời Dương Cừu, con trừu, chiên.

Trước đây 5000 và 6000 năm là thời Kim Ngưu, bò vàng.

* *

8. Các Kỷ Nguyên và Cuộc sống Con Người.

Nhìn tổng quát 6000 năm vừa qua, ta có thể thấy một số ảnh hưởng của các tinh hệ, của các kỷ nguyên, trong các nền văn hóa xưa.

a. Kỷ nguyên Kim Ngưu, Bò Vàng, 4000-2000 ttl, cách đây 5 và 6 ngàn năm trư

Ở Ai cập, nhiều tấm đá thời 3100 ttl, [cách đây hơn 5000 năm], vào giữa thời Kim Ngưu, có khắc hình những vị Vua đầu Bò. Đây cũng đã là thời cường thịnh của Kỷ nguyên nầy.

Những con Bò có dấu hiệu đặc biệt cũng đã được dân Ai Cập thờ kính như hiện thân của Đấng Tạo hóa. Sách Thánh Kitô giáo cũng có nhắc tới.

Đang khi đó, cũng trong kỷ nguyên nầy, Ấn Độ cũng đã thờ Bò, và còn lưu truyền trong đạo giáo và văn hóa tới hiện nay.

Ở phương Đông, vào thời nầy, dân Tộc Việt đã phát minh ra kỹ thuật dùng trâu kéo cày, cải tiến hoàn toàn nghề trồng lúa nước, và cuộc sống, văn hóa…

b. Kỷ nguyên Dương Cừu là thời của Trừu, Chiên, 3 và 4 ngàn năm trước, từ năm 2000 tới năm 1 ttl.

Ở thời Dương Cừu, Trừu trở thành vị Thần bảo vệ các Vua Ai Cập. Hiện nay, tại cố đô Luxor của Ai Cập, vẫn còn con đường với hơn 3000 tượng ‘thần Trừu bảo vệ Vua’ khổng lồ.

Đang khi đó, vào giữa thời Dương Cừu, thoát ly từ Ai Cập, dân Do Thái thành lập quốc gia, và dùng Trừu làm lễ vật trung gian liên lạc với Thượng Đế. [Dân Do Thái có tích Môisen phá hủy Bò Vàng (thời Kim Ngưu), và khởi đầu thời cường thịnh của kỷ nguyên Dương Cừu].

Vào cuối thời Dương Cừu, Đức Giêsu cũng được gọi là Con Chiên của Thiên Chúa, và làm Trung gian Cứu chuộc Nhân loại.

Cũng thời kỳ nầy, ở vùng Thiểm Tây khô cằn giá lạnh phía tây Hoàng Hà, dân du mục, nuôi dê trừu, đã tụ tập. Năm 1046 ttl, vào giữa kỷ nguyên Dương Cừu, họ thành lập Nhà Chu ở vùng Sông Vị. Họ trở thành tộc Hoa, với nền văn hóa du mục tiêu biểu.

c. Kỷ nguyên Song Ngư. 2000 năm vừa qua là thời Song Ngư, 2 Cá. Theo khoa chiêm tinh, đây là thời của Đức Giêsu, với biểu tượng là Con Cá. [Nơi đây chỉ nói về khoa chiêm tinh, không liên hệ tới tôn giáo. Biểu tượng thực sự của Kitô giáo là cây Thánh Giá, với nhiều ý nghĩa cao siêu, huyền diệu khác].

Theo giải thích, sở dĩ có biểu tượng con Cá, vì vào thời Kitô giáo phát triển ở vùng ngôn từ Hy lạp, những chữ đầu của Danh hiệu Đức Giêsu, ‘Ιησούς Χριστός Θεού Υιός Σωτήρ’, ráp lại thành chữ ΙΧΘΥΣ [Íchtuýs]. ΙΧΘΥΣ có nghĩa là con Cá.

Viết theo mẫu tự la tinh: Iesous Christos Theou Uios Soter. Nghĩa là ‘Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Tinh’. [Theo truyền thuyết, vào thời kỳ đầu, vì việc giữ Đạo Kitô bị ngăn cấm, Kitô hữu đã dùng hình con Cá làm mật hiệu nhận ra nhau].

Nhiều hình ảnh Đức Giêsu cũng được vẽ trong khuôn hình Cá.

[Cũng như Môisen phá hủy Bò Vàng (thời Kim Ngưu) và khởi đầu thời cường thịnh của kỷ nguyên Dương Cừu, thì Đức Giêsu, là con Cừu của Thiên Chúa, đã chết để kết thúc kỷ nguyên Dương Cừu, và sống lại để khai lập kỷ nguyên Song Ngư].

* *

9. Hàm Ý Chiêm Tinh trong Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng.

a. Những người biết về Chiêm tinh phương Tây đều biết năm 2000 dl là năm được đoán định cho giao thời giữa hai kỷ nguyên Song Ngư và Bảo Bình.

Vì vậy, không phải tình cờ mà Nostradamus đã nhấn mạnh quá đáng tới năm 2000 dl vừa qua. Đối với Ông, chuyện năm 2000 sẽ xảy ra sau Ông hơn 400 năm. Và sao nó to lớn, mập mờ, xáo trộn. Mọi sự như kết thúc, như giao tranh, như hỗn loạn, như hoang tàn, ghê rợn… Vì vậy Ông đã diễn tả quanh năm 2000 bằng những đoạn sấm đầy xáo động, mông lung, hỗn loạn.

Điều đáng tiếc là cách diễn tả của Nostradamus đã khiến con cháu Ông hiểu lầm. Vì chỉ nhìn cục bộ, vì không đặt những lời Tiên tri của Nostradamus trong toàn bộ chiêm tinh trời đất mênh mông vô tận, nên con cháu Ông đã diễn giải sai lạc thành năm 2000 sẽ Tận thế. – Nostradamus còn nói về những năm 3000, 4000… thì sao lại có thể tận thế vào năm 2000?

Sự sai lầm còn được tô đậm thêm, để con cháu Ông khai thác trục lợi… Những diễn giải sai lạc đã gây tai hại ở nhiều phương diện cho vô số người. Việc chuẩn bị rầm rộ cho ‘Tận thế’ vào năm 2000 sẽ luôn là một hiện tượng cuồng dị giữa những kiến thức đương đại về vũ trụ bao la và trường kỳ [tính bằng triệu, bằng tỷ năm].

Thực ra, dưới khía cạnh Chiêm tinh, tất cả những gì Nostradamus nhấn mạnh cũng chỉ để diễn tả cái nhìn và tâm trạng của Ông khi Ông hoảng loạn trong ‘cảm nhận’ về thời cuối cùng của Kỷ nguyên Ông đang sống. [Theo nhiều tài liệu, khi những ‘nhà Tiên tri cấp nhỏ’ loan báo về ngày ‘Tận thế’ cận kề, thì đó chính là cảm nhận về ngày ‘Tận số’ của chính họ].

b. Cũng không phải tình cờ mà Những Lời Tiên tri về Giáo Hoàng cũng kết thúc vào chính thời kỳ cuối cùng kỷ nguyên Song Ngư nầy.

Cảm nhận hoảng loạn của Vị Đại Tiên tri Nostradamus về ngày cuối cùng của Kỷ nguyên Ông đang sống, cũng chính là cảm nhận của Malachia khi Malachia viết câu cuối cho Kỷ nguyên Song Ngư, Kỷ nguyên của Đức Giêsu. Hai người chỉ khác nhau ở chỗ: Nostradamus tiên tri về đủ mọi thành phần, nên Ông đã bị diễn giải cho ‘toàn thể nhân loại’, cho ‘Tận thế’. Malachia chỉ chú tâm tới các Vị Giáo Hoàng, nên đã bối rối khi diễn tả cảnh Giáo hội, Giáo Hoàng và Giáo đô Roma.

Ta đọc lại câu kết của Malachia:

“Trong cơn bách hại cuối cùng, Tòa Thánh Rôma được trị vì bởi ‘Phêrô dân Rôma’, Ngài chăn dắt đoàn chiên qua nhiều gian truân, do đó Thành Phố Bảy Đồi sẽ bị tàn phá, và Đấng Thẩm Phán đáng kính sợ sẽ phán xét dân Ngài. Hết.”

Trong khi 111 câu trước chỉ có dài nhất là 4 chữ bóng gió, thì Câu Kết 27 chữ nầy là một đột biến trơ trẻn, xô bồ, quái dị.

Thế nhưng, câu nầy cũng diễn tả tâm trạng hỗn loạn giống như của Nostradamus khi Nostradamus nói về thời Cuối Kỷ nguyên. [Còn được gọi là Thời Mạt Pháp, Hạ Nguơn].

Theo đúng văn phong, Malachia không dài dòng như Nostradamus. Nhưng mỗi chữ, từng chữ của Malachia là một bản Tóm Lược của tất cả những cuối thời, của tất cả những hỗn loạn, những quỉ vương, những thế chiến, những thống khổ, những động đất, những tàn phá, những tận diệt, những phán xét… do những diễn giải cường đại và uy hiếp từ Sấm Nostradamus, cho năm đáng thương 2000 dl vừa qua.

Nhưng rồi năm 2000 đã qua đi trong êm thắm. Những hỗn loạn trên chỉ là cách diễn tả, và được diễn giải phóng đại, phản ứng của Nhà Tiên Tri trước những cảm nhận hoảng loạn về buổi kết thúc một Kỷ nguyên. Tất cả đã không xảy ra trên thực tế.

c. Như vậy, qua ý thức năm 2000 là năm chuyển tiếp, ta đọc Lời Tiên Tri của Malachia trong cảm nhận chập choạng của thời chuyển tiếp: giữa cảnh vừa nhớ Giáo Hoàng tiên khởi cũ, vừa có Giáo Hoàng tiên khởi mới, lại vừa có thêm Giáo Chủ.

– “Tới đây là thời cuối cùng. Tòa của Phêrô, (Toà của Vị Giáo Hoàng Song Ngư suốt 2000 năm), lại do một Phêrô Mới trị vì. (Sao lại thêm một Giáo Hoàng tiên khởi mới? Đúng là loạn lạc! Như vậy,) Đoàn chiên sẽ chịu nhiều gian truân, Giáo Đô thần thánh sẽ bị tàn phá! (Nhưng sao cũng có Giáo Chủ? Vậy là) Giáo Chủ đang thẩm kết mọi sự! Thế là Hết!”

Quả thực là Hết.

Nhưng chỉ hết một Kỷ Nguyên!

d. Theo kinh nghiệm của nhân loại, những tác động tới Tâm Hồn Con Người sẽ không bao giờ qua đi.

Kỷ nguyên Kim Ngưu đã qua hơn 4000 năm, nhưng nền văn hóa nông nghiệp Lúa nước vẫn phát triển cho nhân loại, nhưng hơn một tỷ người Ấn Độ vẫn thờ Bò Thần của họ.

Kỷ nguyên Dương Cừu đã qua hơn 2000 năm, nhưng ảnh hưởng nền văn hóa du mục vẫn còn đây, nhưng Do Thái giáo vẫn còn đó, nhưng Kitô giáo vẫn nối tiếp Do Thái giáo. [Do Thái giáo là Cựu Ước, Kitô giáo là Tân Ước, mà cũng bao gồm Cựu Ước].

Kỷ nguyên Song Ngư đang qua, nhưng làm sao mất được hơn một tỷ tín đồ? Vậy thì làm sao có thể mất được Giáo đô, làm sao có thể không còn Giáo Hoàng? Dầu có qua thêm 4000 năm nữa, (như kỷ nguyên Kim Ngưu), thì số tín đồ lại càng gia tăng.

Vấn đề chỉ là một Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên Bảo Bình, đang khởi đầu.

* *

10. Kỷ nguyên Bảo Bình là gì?

Thực ra, không chỉ Chiêm tinh phương Tây, mà nhiều Nhà Tiên Tri lớn, và những Tôn giáo lớn, cũng đều đã chờ đón Kỷ nguyên Bảo Bình đang tới.

Đã có nhiều tiên báo tập trung quanh năm 2000 dl, là năm được coi sẽ kết thúc Kỷ nguyên Song Ngư và khởi đầu Kỷ nguyên Bảo Bình.

Theo một số truyền thuyết, thì năm 2000 dl cũng là lúc Đức Giêsu Phục Lâm, xuống thế lần thứ hai. Có nhiều giải thích truyền thuyết nầy.

Giải thích thông thường nhất là Đức Giêsu sẽ xuống phán xét loài người. Như vậy, có nghĩa là ngày Tận thế. Có giải thích Ngài trở lại trần gian để chỉnh đốn công cuộc Cứu Thế của Ngài, để tuyển chọn số tín đồ thích đáng cho một cuộc sống mới… – Đây cũng là căn cội của các tiên báo về đại họa tận diệt vào năm 2000 dl vừa qua.

[2. Hiện nay là thời Đức Phật Di Lặc ra đời. Câu niệm thường nghe là ‘Nam mô Đương lai Giáo chủ Di Lặc Tôn Phật’. Ngài sẽ đem hạnh phúc và thịnh vượng cho Nhân loại. – Tượng Ngài một tay cầm hồ lô, tượng trưng cho yên lành, một tay cầm viên ngọc, tượng trưng cho thịnh vượng. Miệng và mắt tươi cười, yêu đời. Tai lớn là sống lâu. Bụng lớn là đại phúc, phước lớn. Đứng chân cao chân thấp là an nhiên thoải mái, không câu nệ… Ngài đang tới. Thời Bảo Bình đang tới.

3. Theo Đạo Cao Đài, nay là Thời của Hội Long Hoa, thời tuyển lựa của Hạ Nguơn sắp qua, thời Thượng Nguơn đang tới.

4. Theo sấm Đức Trạng Trình, nay cũng là thời Thánh Chúa thịnh trị. – Bài sấm Rồng Nằm Bể Cạn có 2 câu: ‘Chó nọ vẫy đuôi mừng Thánh Chúa, Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày’. Hoặc ‘Đời nầy Thánh Kế vi Vương, Gồm no đạo đức văn chương trong mình’.]

5. Theo sấm Nostradamus, đang xuất hiện một vị Vua Mới, một cách cai trị mới. Các nhà giải đoán phương Tây coi Vua Mới nầy là vị Khai sáng Kỷ nguyên vàng son cho nhân loại. – Đoạn sấm 2/7: ‘Pour eux neuf Roy, nouvel edict leur forge’. Đối với họ, đây là vị Vua mới, đạo luật mới rèn luyện họ.

* Như vậy, Kỷ nguyên Bảo Bình, từ năm 2000 tới năm 4000 dl, là thời Nhân loại được hưởng Thanh bình, Thịnh vượng, Đồng tâm, và Hạnh phúc đích thực, như được các Giáo Chủ giáo hóa, như thời các Thánh Chúa thịnh trị, như mọi người trông chờ.

* *

11. Hãy Reo Mừng!

Như vậy, qua chiêm tinh, theo Tiên tri Malachia, và theo hiện tình thời sự, kỷ nguyên Song Ngư chính thức kết thúc tối ngày 28.2.2013. Ngày 1.3.2013 chính thức khai nguyên Kỷ nguyên Bảo Bình.

Những diễn giải bi quan về câu kết của Malachia cũng sẽ êm thắm qua đi, như những diễn giải kinh hoàng về Sấm Nostradamus cho năm 2000 vừa qua.

Mọi sự vẫn tiếp diễn trên hành trình thăng tiến của nhân loại. Giáo Hội Công Giáo vẫn yên lành đem Sứ Điệp Tình Yêu của Thiên Chúa đến cho Mọi Người.

Nhân loại đang hân hoan bước vào một Kỷ Nguyên mới, Kỷ Nguyên Thanh bình, Thịnh vượng, Đồng tâm, và Hạnh phúc đích thực.

Hãy Reo Mừng!

– Xin lạy mừng Đức Tân Giáo Hoàng năm 2013. Ngài đầy Ơn Phước, và Ngài sẽ yên lành chăn dắt Đàn Chiên Chúa trong thịnh vượng.

Chúa Chiên Lành đã thương dẫn Cha đi. Cha còn sợ chi?

Xin dâng Lời Cảm Tạ!

Ngày 14.2.2013

6 thoughts on “Chung quanh lời tiên tri Malachia

  1. xin mời các bạn tìm đọc bức thư [ gởi anh sa tan ] của linh mục giuse trần đình long .dòng thánh thể việt nam đăng trong tập san nhờ mẹ đến với chúa .tháng 5 năm 2013 .trên trang web muoichodoi.info.vn.hoặc tìm đọc trong bài giảng chủ nhật tháng 6 năm 2013 của tổng giáo phận sài gòn phát hành .các bạn cố gắng tìm đọc nhé .đọc để biết và tránh nếu như các bạn sợ hoả ngục .vì thời kỳ nầy quỷ satan quá lộng hành .chúng lan tràn khắp nơi .chẳng những cám dổ chúng ta .những con người yếu đuối sa ngã phạm tội chống lại thiên chúa .mà chúng còn lôi kéo các vị lảnh đạo quan trọng trong hàng ngũ của giáo hội .mục đích của chúng là đánh thẳng vào những người cầm quân đó các bạn .đây là cú đánh bất ngờ vì ai ai trong chúng ta cũng đang đặt niềm tin tuyệt đối vào các vị .nhưng đến một lúc nào đó chúng ta thấy rõ sự thật .thì đức tin của chúng ta sẽ chẵng còn nữa .và chúng ta sẽ phải đi về đâu …và đến lúc đó satan .chúng sẽ vỗ tay mừng chiến thắng

  2. thời kỳ bây giờ là thời kỳ của lòng chúa thương xót .đức thánh cha phanxico đã nói rất nhiều từ lúc ngài nhận lãnh sứ mệnh phero đến nay ,ngài nói về lòng chúa thương xót và ngài đã sống với lòng chúa thương xót ,thật tuyệt vời ,cảm tạ chúa đã ban tặng cho nhân loại ngày hôm nay một vị mục tử nhân lành như lòng dân mong đợi chúa đã ban cho chúng ta một người cha nhân từ .đáng kính, ,như vậy chúng ta là những đứa con ,chúng ta phải làm gì đây làm theo .sống như cha hay cứ ngồi lặng thinh để chờ lòng thương xót của chúa ban cho ,chúng ta hãy nghe hãy nhìn tấm gương của đức thánh cha ,và chúng ta cũng hãy nói và thực hiện lòng chúa thương xót qua đời sống hằng ngày của chúng ta ,có như vậy mới xứng đáng là con cái chứ ,con thì phải học và noi theo gương cha ,tôi nghe rất nhiều lời ca ngợi về gương sống của đức thánh cha ,từ đức hồng y ,các giám mục cho đến các linh mục .trong các thánh lễ quan trọng các vị thường nhắc nhở đến đức thánh cha ,có vẻ tự hào rằng ta có một người cha tuyệt vời ,hết lời ca tụng ,ngợi khen ,đó là những lời ca khen thật lòng hay chỉ là những lời nịnh hót của những kẻ bầy tôi , tôi nhớ rỏ như in ,thánh lễ truyền chức linh mục tại nhà thờ chính toà sài gòn ngày 01,06,2013.các vị nhắc đến lòng thương xót chúa ,và tấm gương đáng kính của đức thánh cha phanxico như là một đề tài đưa ra để mọi người tìm hiểu học hỏi và thực hiện ,điều này rất tốt ,và với lời nhắc nhở tới các tân linh mục ,[ hãy sống như lòng chúa mong đợi ] điều này rất tuyệt vời thánh lễ kết thúc trong sự hân hoan vui mừng và lắng đọng trong tôi những điều tốt đẹp nhất .tôi còn nhớ thánh lễ truyền dầu vào thứ năm tuần thánh ngày 28.03.2013 tại nhà thờ chính toà sài gòn .các vị cũng nhắc nhiều đến đức thánh cha phanxico và lòng thương xót của chúa .và thời điểm bấy giờ là vài tuần sau khi đức thánh cha nhậm chức .các vị ca khen rất nhiều về đức thánh cha .các vị nhắc đến cử chỉ thương yêu con cái việt nam của đức thánh cha qua việc cúi xuống hôn nhẫn hồng y phạm minh mẫn của chúng ta . cử chỉ đó cũng là thông điệp của lòng thương xót chúa mà đức thánh cha phanxico muốn gởi đến toàn thể con dân việt nam .như chúng ta cũng đã biết khi một người quyền cao chức trọng hoặc giàu có về của cải vật chất mà họ biết cúi xuống ôm lấy những con người nghèo khổ tận cùng trong xã hội thì đó là họ đã thực hiện lòng chúa thương xót rồi đó các vị ạ.đức thánh cha là tấm gương sáng mà chúng ta cần phải noi theo .chúng ta học cách sống của ngài ngay từ bây giờ và mãi mãi cho đến ngày chúa đến .chứ đừng nên quan niệm rằng thời bây giờ là thời của lòng chúa thương xót vì đấng chủ chăn của giáo hội đang là người thực hiện đời sống khó nghèo .rồi một ngày nào khi đức thánh cha kg còn ở với chúng ta nữa .đến lúc đó chúng ta lại tiếp tục dửng dưng .từ chối với lòng chúa thương xót như xưa nay chúng ta đã từng chối bỏ .cản trở hoặc đã từng ngăn cấm lòng chúa thương xót đến với mọi người .của các vị có quyền có chức trong giáo hội .từ các đời giáo hoàng đã cấm việc loan truyền lòng chúa thương xót của thánh nữ faustina cho đến việc cấm cản của giáo hội việt nam qua quyền bính của các vị trong việc loan truyền lòng chúa thương xót của linh mục giuse trần đình long dòng thánh thể tại việt nam .lòng chúa thương xót có gì mới đối với chúng ta đâu .đã hơn 5 năm cha giuse trần đình long đã loan truyền tại quê hương việt nam của chúng ta .có gì khác so với lòng chúa thương xót mà các vị bảo chúng ta hãy học và noi gương đức thánh cha .tôi là người đón nhận lòng chúa thương xót qua lời mời gọi của cha long từ ngày cha bắt đầu khởi xướng đến nay .tôi thấy rất rõ cái nhìn và cảm nhận lòng chúa thương xót của các vị chỉ là xu thời thôi .có tính cách xu nịnh ,bởi vì hiện nay giáo hoàng đang trị vì là đấng có lòng xót thương thì các vị cũng cố gượng sống theo chứ thực tế tôi thấy quá rỏ trong tâm của các vị rồi .các vị đừng nên lấy vải thưa mà che mắt thánh nữa .các vị hãy trả lời đi ,tại sao việc loan truyền lòng chúa thương xót của linh mục giuse trần đình long bị cấm cản .trước khi lên ngôi giáo hoàng ,đức thánh cha cũng đã có đời sống trong lòng chúa thương xót rồi .thì tại sao linh mục giuse trần đình long lại kg được quyền sống với lòng chúa thương xót chứ .còn giờ đây các vị mời gọi tất cả chúng ta hãy noi theo đức thánh cha đến với lòng chúa thương xót là sao …tôi cũng kg quên thánh lễ khai mạc năm đức tin ngày 18.10.2012 tại nhà thờ chính toà sai gòn .lúc đó là thời điểm trị vì của giáo hoàng biển đức 16 .lúc đó tôi thấy rất rõ các vị chẵng hiểu cũng như chẵng biết gì về lòng chúa thương xót cả .mặc dù lòng chúa thương xót đã loan truyền hơn 4 năm trên đất nước việt nam và lúc đó cũng là lúc các vị vừa thực hiện lệnh cấm loan truyền lòng chúa thương xót với linh mục giuse trần đình long .chẵng những các vị kg hiểu biết về lòng chúa thương xót mà các vị còn phê bình ,chỉ trích những người con cái chúa đã và đang đến với lòng thương xót chúa nữa chứ .trong thánh lễ hôm đó các vị cho rằng đức tin của những người tây là bằng cái đầu .còn của người dân chúng ta thì bằng bản năng và sự sinh tồn .tin theo thói quen.tôi nhận xét câu nói nầy .đúng như lời chúa nói [ muốn vào nước trời hãy trở nên như trẻ thơ ] người tây họ tin bằng cái đầu .cái đầu khôn ngoan của họ nên giờ đây họ đã dần dần loại bỏ chúa ra khỏi cuộc đời của họ .họ kg còn đến nhà thờ .họ cho rằng thờ chúa trong lòng là đủ .các vị đang ủng hộ đời sống đức tin của họ và cho đó là văn minh .với đầu óc khôn ngoan nhìn nhận đức tin bằng cách đó mà các vị cho là đúng .còn các vị chê đức tin của con người việt nam là chỉ theo bản năng .theo thói quen và sự sinh tồn .thú thật tôi xin thưa cùng các vị rằng chính vì sự ngây thơ ,khờ dại của con dân việt nam mà nước chúa đã loan truyền rộng trên khắp quê hương việt nam đó các vị .các vị tôn thờ sự khôn ngoan của dân tây ,coi chừng một ngày nào đây chúng ta cũng sẽ bỏ chúa và cũng loại chúa ra khỏi cuộc đời của chúng ta .trong thánh lễ đó các vị cho rằng đức tin của con người chúng tôi kg đúng .tin kg đúng tôi xin nhắc lời của các vị [ gần đây nhiều người đến đan viện biển đức để cầu bầu ] tức là cầu xin có thai của những cặp vợ chồng hiếm muộn .như vậy việc lên tiếng chỉ trích của các vị có đúng kg .nếu các vị cho rằng mọi người đến cầu xin như vậy là kg đúng thì rõ là các vị đã loại bỏ thiên chúa ra khỏi thế gian nầy rồi .vì thánh thần chúa đang hiện diện với chúng ta .đang đồng hành với chúng ta thì tại vì sao các vị kg tin vào quyền năng của chúa thánh thần thực hiện trên chúng ta .tiếp đến các vị cho rằng phong trào lòng chúa thương xót .mọi người đến để xin ơn .các vị cho việc đến với lòng chúa thương xót là ngu ngơ ,khờ dại chứ gì .bởi vì các vị đưa ra so sánh đức tin của dân tây là tin bằng cái đầu còn dân ta tin bằng thói quen .như vậy chúng tôi tin chúa một cách mù quáng .đến với lòng chúa thương xót để xin ơn là dại dột là điên dại phải kg các vị .chính vì vậy nên các vị đã cấm linh mục giuse trần đình long dẫn dắt chúng tôi đến với lòng chúa thương xót …nhưng rồi thời đại giáo hoàng biển đức 16 đã qua .và thời đại giáo hoàng phanxico đến .thì chuyện gì đã xãy ra .giáo hoàng phanxico là giáo hoàng của lòng thương xót chúa .chỉ sau 5 tháng cộng thêm 10 ngày lẻ là khoảng cách thời gian giữa 2 thánh lễ .khai mạc năm đức tin và thánh lễ truyền dầu .cũng tại một nơi cử hành thánh lễ và cũng một người chủ tế thánh lễ .mà cục diện đã thay đổi hoàn toàn .cũng con người đó trước 160 ngày thì cho rằng đến với lòng chúa thương xót là để xin ơn với cái thói quen của con người chứ kg nói lên đức tin đối với thiên chúa .còn sau 160 ngày thì hết lòng đến với lòng chúa thương xót hết lời ca ngợi giáo hoàng của lòng thương xót hết lòng mời gọi mọi người hãy noi gương sống của đức thánh cha phanxico .mà các vị đã quên rằng con cái việt nam đã đang bị các vị cấm đến với lòng chúa thương xót và cũng đang bị cấm thực hiện lòng chúa thương xót đến cho mọi người .các vị nên suy nghĩ lại về việc cấm linh mục giuse trần đình long và cộng đoàn lòng thương xót chúa đã hoạt động trong suốt 5 năm trên quê hương việt nam. đã mang đến biết bao nhiêu điều tốt đẹp cho con người .tại sao các vị kg biết phát triển thêm những gì đang có mà cố tình dập tắt ngọn lửa yêu thương đang bùng cháy ,đang lan rộng trong mọi người và trên quê hương đất nước chúng ta .tôi thấy việc làm của các vị thật có lỗi với chúa nhiều lắm .các vị nên hồi tâm ,tỉnh trí mà đón nhận lòng chúa thương xót qua việc loan truyền của cha long đi nhé ,tất cả chỉ vì danh chúa ,chúng ta đừng nên vì lợi ích cá nhân hoặc vì cái tôi quá lớn mà chê bỏ và kg công nhận việc làm của cha long .thật tình mà nói ,cái nhận xét của tôi xin các vị đừng buồn .nói về giảng lễ lòng chúa thương xót ,thì kg một ai có khả năng như cha long .tôi tham dự rất nhiều .tôi xin lổi trước ,chứ thật sự đức hồng y cũng chẵng có tài nào mà nói về lòng chúa thương xót .các giám mục việt nam cũng chẵng có vị nào có thể so sánh được với cha long .còn về linh mục trong nước cũng như nước ngoài phải thừa nhận là chẵng có vị nào .trên trang web tôi tìm đến các bài giảng về lòng chúa thương xót cũng rất nhiều vị trên thế giới .nhưng thật sự phải nhìn nhận rằng cha long có một khả năng tuyệt vời .tôi đã nghe và lưu trữ trên 1500 bài giảng của cha long nói về lòng chúa thương xót .thử hỏi trong đời sống linh mục của các vị đã từng giảng được bao nhiêu lần nói về lòng chúa thương xót .bởi vậy nếu mang ra so sánh thì chẳng khác gì một chén nước với một đại dương mênh mông ,đó là khả năng.còn nói về ơn chúa thánh thần gìn giữ .thì cha long đã được một ơn đặc biệt là cầu nguyện xin chúa ban ơn chữa lành .kg thể từ chối việc chúa thánh thần đã thực hiện trên cha qua việc cầu nguyện .đây là sự thật mà con cái chúa khắp nơi từ trong nước cũng như nước ngoài được lảnh nhận qua lời cầu nguyện của cha long .bởi vì lẻ đó tôi nghĩ rằng các vị cũng nên vì danh chúa ,cũng như vì lời mời gọi của chúa hãy đến với lòng thương xót chúa qua thánh nữ faustina .qua lời mời gọi của giáo hoàng gioanphaolo 2 và qua đời sống của đức thánh cha phanxico .mong rằng các vị mở lòng mở trí mà nhìn nhận việc làm của cha giuse trần đình long và cộng đoàn lòng thương xót chúa là đúng và tháo bỏ lệnh cấm để cha giuse trần đình long được tiếp tục loan truyền lòng chúa thương xót mang yêu đến mọi người ở khắp mọi nơi .đặc biệt là những người nghèo khổ đói khát .mà đức thánh cha phanxico đã nhắn nhủ đức hồng y hãy đến với họ qua cử chỉ hôn nhẫn hồng y của đức thánh cha đó .

  3. các bạn nghĩ sao về giáo hội công giáo ngày nay .còn tôi thì chẳng còn tin vào giáo hội nữa rồi .hàng ngũ giáo hội đã bị ma quỷ chen vào phá phách, lôi kéo con người chống lại thiên chúa .dùng quyền lực của bề trên mà cấm đoán người dưới quyền của mình làm việc thờ phượng chúa .cấm kg cho loan truyền lòng chúa thương xót kg cho thực hiện lctx theo lệnh chúa truyền .như vậy nếu chúng ta nghe theo giáo hội tức là chúng ta chống lại và từ chối lời mời gọi của chúa .vậy chúng ta có mắc tội với chúa kg .chúng ta theo đạo là theo chúa hay là theo giáo hội .chúng ta nghe lời chúa dạy ,làm theo ý chúa hay nghe lời của con người .và làm theo ý muốn của con người .các bạn chọn chúa hay chọn con người .các bạn nghĩ sao .còn tôi ,tôi chỉ chọn thiên chúa mà thôi .chỉ có thiên chúa mới đủ quyền năng cứu vớt con người mà thôi .còn thế gian này kg có một quyền lực nào sánh bằng thiên chúa cả .tôi sẵn sàng từ bỏ và xa lánh cái giáo hội mà trong đó chứa đầy những con người lợi dụng chức quyền mà cấm ngăn con cái chúa làm theo lời chúa …rồi đây ,một ngày kg xa tôi sẽ tôi sẽ vạch rõ và đưa tên tất cả các lm .gm .các đấng bậc bề trên có tham gia vào chương trình ,mà cũng có thể nói là cái dự án ..bởi vì việc ngăn cấm lm giuse trần đình long kg được làm mục vụ lòng chúa thương xót .kg phải riêng cá nhân của cha bề trên phan ngọc trợ,mà là của cả một [ tập đoàn ] trong đó rất đông đảo lm .gm …và cái mà tôi cho là dự án nầy nó đã bắt đầu ngay từ năm đầu tiên khi lm giuse trần đình long làm mục vụ lòng chúa thương xót tại nhà thờ chí hoà nhưng.mãi đến ngày 29.07.2012.cái tập đoàn ấy mới thực hiện được lệnh cấm kg cho lm giuse trần đình long làm mục vụ lctx xót chẵng những tại nhà thờ chí hoà mà còn tất cả trên các nhà thớ khác trên toàn cỏi việt nam cũng như hải ngoại …mà lệnh cấm này phát xuất từ việc tranh giành đồng tiền .chỉ vì đồng tiền mà kg còn biết vâng phục lệnh của thiên chúa .xem lời chúa quá tầm thường kg xứng đáng để nghe theo …như vậy thử hỏi theo đạo mà kg giữ lời chúa ,thì theo đạo làm gì vô ích …làm sao có được sự cứu rỗi chứ .các bạn có ai nghĩ giống tôi kg …

  4. thật nghĩ buồn cho cái giáo hội việt nam ngày nay ,một giáo hội kg biết nhận thức đúng sai .kg phân biệt được đâu là đường ,đâu là hố sâu …giáo hoàng là một người giàu lòng thương xót .tất cả con cái chúa trên toàn nhân loại đều biết .trong đó con cái chúa ở việt nam cũng hoà nhịp vào cái [ biết ] cùng giáo hội toàn cầu nào là .ngợi khen ,chúc tụng ,học hỏi cũng như tìn hiểu lối sống của giáo hoàng trước khi đăng quan ngôi giáo hoàng .một con người sống đúng và thực hành theo lời chúa dạy .[mến chúa /yêu người ]qua cách sống của ngài là đã loan truyền lòng chúa thương xót đến cho mọi con cái chúa .chúng ta noi gương sáng của giáo hoàng là đúng .đúng ý của chúa muốn nhân loại ngày hôm nay hãy đến với lòng chúa thương xót để đón nhận được sự bình an .vì con cái đang sống trong một thế giới tràn ngập những bất an trong cuộc sống hằng ngày .và hãy thực hành lòng chúa thương xót qua cách sống yêu thương chia sẻ ,vì khoảng cách giàu nghèo của con người ngày hôm nay quá chênh lệch ,có thể nói là [kẻ ăn kg hết ,người lần kg ra ] vì vậy chúng ta hãy đến với lctx để cảm nhận được rằng chúa đã ban cho ta nhiều ân huệ ,ta có được đầy đủ mọi thứ .còn người anh em của ta ,sống xung quanh ta .kém may mắn .sống trong cảnh nghèo nàn ,đói khổ .ta hãy thực hành lctx bằng cách chia sẻ những cái dư thừa để đưa đến giúp đở cho những người anh em nghèo khổ đang mong chờ …thế nhưng tại quê hương việt nam của chúng ta trong suốt 5 năm lm giuse trần đình long đã loan truyền và thực hiện lctx theo lệnh chúa truyền qua mặc khái của chúa giesu với chị thánh faustina và thông điệp của giáo hoàng gioan phao lo 2 .vậy mà giáo hội việt nam chẵng những kg công nhận việc loan truyền lctx của cha long mà còn cấm cản nửa chứ .nguyên nhân chính trong việc cấm cản là chỉ vì giành giựt đồng tiền,kg đồng ý cho cha long mang hết số tiền thu được qua lời mời gọi sẻ chia đến giúp đở cho những người nghèo kém may mắn .cha long mang toàn bộ số tiền thu được để giúp đở người nghèo là làm theo nguyện vọng của những người gởi gắm ..bởi vậy cha đâu thể nghe lời bề trên cũng như cái [tập đoàn]gồm các lm gm .đòi hỏi cha phải đưa về trên để cho các vị sử dụng đồng tiền đó theo ý các vị được .làm như vậy chẳng khác gì cha long hợp tác cùng các vị đi lừa dối cộng đoàn dân chúa ư ,kg thể làm như vậy được cộng đoàn chúng tôi cũng kg thể nào chấp nhận cách hành xử vô lương tâm .vô đạo đức như vậy .biết bao nhiêu con người nghèo khổ đang chờ từng hạt gạo ,từng gói mì tôm cứu đói và nhiều thứ khác của cộng đoàn lctx mà cha long mang đến .nhưng kg được nữa rồi ,các vị đã hất đổ những nắm gao ,giẫm nát những gói mì tôm ,kg cho cha long mang đến cho những con người đói khát đang chờ đợi từng ngày ,từng giờ .các vị đâu có biết ngoài phố xá đô thị xôn xao cuộc sống nguy nga tráng lệ .các vị có một cuộc sống dư thừa từ vật chất đến các phương tiện đầy đủ .các vị đâu có nhìn ra xa có biết bao cảnh đời bất hạnh đang cần sự giúp đở từ những người có điều kiện gởi đến .vậy mà các vị đã nhẫn tâm quá ,cộng đoàn chúng tôi đâu có yêu cầu các vị phải chia sẻ gì đâu .chỉ mong muốn rằng các vị kg nên dùng quyền hành mà cấm kg cho cha long làm muc vụ lctx để mời gọi mang yêu thương đến cho mọi người ,các vị cấm cản kg cho cha long giúp đở người nghèo là các vị đã gây nên tội ác rất lớn đó .đối với con người là tội ác quá lớn còn đối với thiên chúa thì sao .[lợi dụng quyền năng chúa ban]mà gây nên tội lớn .dùng quyền hành cấm cản con cái chúa yêu thương nhau …lịch sử giáo hội công giáo việt nam sẻ khắc ghi những việc làm của các vị đến muôn đời .tôi sẽ công bố danh sách từng tên trong [ tập đoàn ]của các vị từ địa phận phan thiết đến địa phận bà rịa ,địa phận xuân lộc và cuối cùng là tổng giáo phận tp hồ chí minh tập đoàn chống lại giới răn của thiên chúa .tập đoàn cấm kg cho con cái chúa thực hiện [mến chúa / yêu người] tập đoàn dẩn dắt và buộc con cái chúa theo lệnh satan chống lại thiên chúa mà miệng thì luôn luôn lúc nào cũng nói lời chúa

  5. [ khiêng vào khiêng ra ] đây là một hành động mà theo tôi thấy quá xót xa cho đấng tạo hoá .các bạn có nhận thấy tượng chúa thương xót trong tất cả các nhà thờ đều kg được chọn đặt một vị trí thích hợp và cố định trên cung thánh kg ? tôi muốn nói lên việc thờ phượng thiên chúa của chúng ta ,tất cả chúng ta đều xác tín rằng [ Đức chúa Giêsu là Đức chúa trời thật ] thì thử hỏi tượng chúa thương xót mà ta thờ đó kg phải của Thiên chúa sao ? vậy thì tại sao mỗi tháng một lần đến thánh lễ kính lòng chúa thương xót thì mới khiêng tượng chúa ra đặt trên cung thánh ,xong thánh lễ thì lại khiêng vào phòng áo .trong khi niềm tin của chúng ta rỏ ràng Đức chúa Giêsu kg phải hoàn toàn là con người trần gian như chúng ta .ngài sinh ra kg bởi sự kết hợp của hai người nam nữ mà thành .nhưng do quyền năng thiên chúa .Thiên chúa kg đi tìm kiếm và tuyển chọn cậu bé Giêsu con ông Giuse và bà Maria .một cậu bé được sinh ra từ máu thịt của cha mẹ cậu như bao trẻ khác .rồi Thiên chúa mang về truyền dạy cho các phép thuật mà thế gian kg ai có được để rồi Thiên chúa sai chúa Giêsu thay mặt Thiên chúa ở thế gian này mà chịu chết để cứu chuộc tội lỗi loài người .kg phải như vậy .nếu như sự thật như vậy thì việc khiêng vào khiêng ra cũng tạm chấp nhận bởi vì ngài cũng như các thánh mà thôi .cũng là con người như các thánh nhưng được tôn vinh bởi đời sống thánh thiện ,tôn vinh để mọi người noi gương nhân đức của các ngài …đàng nầy Chúa Giesu mà chúng ta tôn thờ chính là Đúc chúa trời thật .ngài chính là Đức chúa trời đã [mặc]lấy thân phận của con người mà thôi …cho nên chúng ta kg được xem ngài ngang hàng với các thánh được …như vậy việc làm [ khiêng vào ,khiêng ra ]đã xúc phạm nặng đến hình ảnh của Thiên chúa rồi ..chúng ta tôn thờ Thiên chúa như vậy là sai hoàn toàn .vậy mà tôi đã đọc được bài của Đức giám mục địa phận Đà lạt .Ngài giám mục này có trả lời thắc mắc của nhiều giáo dân trong các giáo xứ rằng việc [ khiêng vào ,khiêng ra ] là đúng ,là thích hợp .bởi vì nếu chọn một vị trí để đặt cố định tượng chúa thương xót ,thì lễ các thánh hằng năm có biết bao lễ kính các thánh thì trên cung thánh kg còn chổ để đặt .cho nên việc quyết đinh [ khiêng vaò ,khiêng ra ] là đúng .nói như vậy việc thờ phượng Thiên chúa của chúng ta kg còn phân biệt cao thấp ,ta cho Thiên chúa cũng ngang bằng với các thánh mà thôi …theo nhận xét của tôi thì ngài Giám mục giáo phận Đà lạt nên suy nghĩ lại cho đúng về tín lý của niềm tin Kito giáo ..và tôi cũng nghĩ rằng hội đồng Giám mục Việt nam cũng nên có một quyết định chung cho đúng đắn về việc thờ phượng Thiên chúa …chúng ta kg nên xem thường tượng chúa thương xót ,tượng thánh giá nói lên Thiên chúa là tình yêu đã hiến mạng sống để cứu chuộc tội lỗi muôn dân,còn tượng chúa thương xót nhắc chúng ta nhận thấy Thiên chúa là đấng giàu lòng thương xót ,máu và nước chảy ra từ trái tim chúa thể hiện qua 2 tia trắng ,đỏ .nói lên tình yêu thương của Thiên chúa đối với chúng ta đến giọt máu cuối cùng …vậy mà chúng ta cứ dửng dưng với tình yêu đó .chúng ta đáp trả tình yêu của Thiên chúa đối với chúng ta bằng cách mỗi tháng 1 lần trong thánh lễ kính lòng chúa thương xót mới khiêng ra đặt nơi cung thánh ,xong thánh lễ thì lại khiêng vào để trong phòng áo mặc cho bụi bặm hoặc nhặng giăng tơ ,miễn sao tháng tới lau chùi và phủi sạch sẽ là được .việc thờ phượng Thiên chúa như vậy thật quá bất kính .coi thường Thiên chúa là đáng tội là đáng phải lãnh nhận hoả ngục đời đời đó .tôi rất ghê sợ sự xúc phạm đến Thiên chúa của các đấng bậc có chức quyền trong giáo hội quá .giờ công thẳng của Thiên chúa sẽ đến ,chúa sẽ ra tay trừng trị phường tội lỗi .nặng nhật là sự xúc phạm đến Thiên chúa .tội coi thường Thiên chúa .chúng ta nên nhớ kỹ cho rằng ngoài thiên chúa là đấng chúng ta tôn thờ thì kg còn một đấng nào nữa cả .nếu lựa chọn việc đặt tượng chúa thương xót trên cung thánh mà vướng tượng thánh Giuse hoặc tượng Đức mẹ .thì buộc chúng ta cũng phải chọn tượng chúa thương xót mà bỏ bớt một trong hai tượng kia rồi .bởi vì đấng mà chúng ta tôn thờ chính là Thiên chúa mà tượng chúa thương xót là tượng trưng cho hình ảnh của Thiên chúa mà ,vậy thì lý do gì mà chúng ta lại dẹp bỏ tượng chúa mà tôn thờ con người chứ .tội lỗi kg các bạn ? tôi nói đây là nếu như đặt trường hợp lựa chọn thì buộc chúng ta phải nhất nhất là phải lựa chọn Thiên chúa rồi .nhưng đây chưa đến nỗi chúng ta phải lựa chọn .bởi vì nhà thờ nào cũng vậy .đứng dưới nhìn lên cung thánh ,chính giữa trên cao nhất là thánh giá cứu chuộc có tượng chúa Giesu chịu đóng đinh .bên trái chúng ta là tượng Đức mẹ ,bên phải chúng ta là tượng thánh Giuse .trước mặt Đức mẹ là bục giảng .vậy thì vị trí còn lại trước mặt thánh Giuse tại sao chúng ta kg đủ thông minh để chọn và đặt kiên cố tượng chúa thương xót ở đó nhỉ ? tượng đặt ở đây quá sức phù hợp ,bởi vì ai trong chúng ta cũng muốn đến với lòng chúa thương xót ,đặt ở đây rất thuận tiện cho mọi người đến với chúa …các vị bề trên có quyền có chức trong giáo hội , nhất là vị Giám mục giáo phận Đà lạt giả vờ làm người khôn ngoan chọn vị trí này để đặt tượng chúa thương xót thử xem giáo dân ai có ý kiến gì kg ? còn nói về ngày lễ kính các thánh thì sao ? tượng các thánh đặt ở đâu ư ? còn chứ các vị ,còn một vị trí đặt tạm nằm ngang với bục giảng đó ,chỉ đặt tạm thôi mà ,xong lễ rôi chúng ta mang vào ,có gì khó đâu mà chúng ta kg đủ sự khôn ngoan mà xử lý ,để làm cho việc thờ phượng Thiên chúa đúng đắn hơn .tốt hơn hợp với đức tin Kito giáo hơn .vị trí đặt tượng lòng chúa thương xót ở đây có lẽ đã được chúa chọn từ trước rồi ,chẳng qua là các vị kg hiểu được ý chúa mà thôi .hoặc các vị đang cùng kẻ thù nghịch muốn dẫn con cái chúa chống lại Thiên chúa ,kg tôn thờ Thiên chúa là đấng cao cả ,là đấng đáng được tôn thờ .và là đấng mà con người phải tôn thờ .tôi rất lấy làm tiếc cho sự thờ ơ của các vị đó .nếu việc thờ hình tượng của chúng ta rắc rối quá .thì tốt hơn chúng ta hãy dẹp bỏ hết đi .để khỏi phải xúc phạm đến hình ảnh Thiên chúa .việc thờ phượng của chúng ta như vậy kg chừng tạo cớ cho anh em giáo phái Tin lành họ cười cho là chúng ta kg tôn thờ Thiên chúa đúng cách .trước nay họ luôn cho rằng chúng ta đi sai đường ,đi sai lời chúa dạy trong kinh thánh ,nay chúng ta lại vấp phải việc này thì thật là đau đớn cho giáo hội .tôi xin đại diện cho rất rất nhiều người con cái chúa muốn gởi đến các vị lời nhắn nhủ là nên cố gắng dẫn dắt con cái chúa biết tôn thờ Thiên chúa như thánh ý chúa muốn ..[.thành thật tôn vinh sự khôn ngoan của các vị ],nguyện xin Thiên chúa toàn năng ban cho các vị được khả năng hiểu biết để dẫn dắt đoàn con cái chúa đi đúng đường hướng của chúa …Amen

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s