Home

LM Giuse Hoàng Kim Toan11/21/2003

Sự chết làm cho con người bận tâm nhiều về ý nghĩa cuộc đời của mình, dù có muốn quên đi nhưng vẫn không thể phủ lấp, bởi sự chết có mặt thường ngày, đối diện với sự chết là cách thức đi tìmngọn nguồn và ý nghĩa cuộc đời của mình là cách khôn ngoan nhất.

Phật giáo ra đời với nguồn gốc Ấn Độ giáo, khác với Ấn giáo nhưng có nhiều điểm chung với Ấn giáo. Phật giáo ra đời với ĐứcPhật Thích Ca Mâu Ni. Cuộc đời Đức Thích Ca Mâu Ni gắn liền với giáo lý truyền giảng, có dấu ấn kế thừa niềm tin Ấn Độ giáo về Luân hồi và giải thoát. Đức Phật sinh vào năm 563B.C, cùng thời với lúc các vị chân tu Ấn Độ giáo sọan kinh Upanishads, tại Shakya, nên cũng gọi Đức Phật là Shakyamuni – Một người Shakya trí huệ. Ngài sanh trưởng trong dòng dõi hòang triều, lớn lên lập gia đình, có một người con, sau đó vào năm 29 tuổi phát nguyện đi tu, tìm con đường giải thoát. Con đường tìm kiếm của Ngài bắt đầu bằng thao thức về phận số của con người theo dòng luân hồi, sinh bệnh lão tử, nhận thấy cuộc đời đầy đau khổ, tứ bể khổ hằng bao bọc lấy con người, và ngài đã bỏ hòang triều, gia đình để phát nguyện đi tìm chân lý.

Bước đầu trên con đường đi tìm kiếm chân lý của Đức Phật là nhận thấy: Đời là bể khổ, sinh ra là khổ, bệnh là khổ, lão là khổ và chết cũng là khổ. Giữa tứ khổ ấy, Đức Phật ngộ ra cõi đời này là vô thường và phi ngã, bởi ta mê lầm lấy cái tương đối làm tuyệt đối nên làm khổ một đời. Để tránh khỏi bể khổ đó sau khi giác ngộ, Đức Phật tìm ra con đường Bát Chánh Đạo để đạt tới con đường giải thoát.

Vận mệnh cuối cùng của con người là gì? Phải chăng như quan niệm Ấn Độ giáo, Trời là tối thượng, trời sinh voi, trời sinh cỏ. Đức Phật bận tâm nhiều về sự tinh tấn trong thực hành tâm linh hơn là quan tâm vấn đề triết học và vũ trụ luận. Con đường cụ thể thực hành tâm linh ấy là con đường Tứ Diệu Đế:

Khổ Đế: (Duhkka – satya), giác về khổ qua tứ khổ: Sinh, bệnh, lão, tử và các thứ đau khổ khác như “ai biệt ly khổ”, “óan tăng hội khổ” “cầu bất đắc khổ”. Giác về khổ để đi vao con đường giải thóat khỏi bể khổ.

Tập Đế: (Samudaya – satya) Nhận thấy sự đau khổ và cần biết đến cội nguồn của khổ đau ấy là gì, đó là con đường Tập Đế. Đau khổ bởi vì chấp trước ái, ố, hỷ, nộ, dục, sinh tử. Con đường đau khổ ấy cho thấy con người còn trong dòng luân hồi giữa cuộc đời vô thường.

Diệt Đế: (Nirodha – satya) còn gọi là giải thoát luận, diệt khổ tức là diệt thân, diệt thân có nghĩa là giải thoát bản thân khỏi bể đắm dục vọng, ái, ố, hỷ, nộ, sinh, tử.

Đạo Đế: (Màrga – satya), con đường dẫn đến giải thóat hay còn chính là Bát Chánh Đạo. Con đường tuệ giác bằng tâm linh và bằng hành động:

Chính kiến để lấy tuệ làm thể.

Chính tư duy để lấy tâm làm thể.

Chính ngữ lấy giới làm thể.

Chính nghiệp lấy giới làm thể.

Chính mệnh lấy giới làm thể.

Chính tinh tấn lấy cần làm thể.

Chính niệm lấy niệm làm thể.

Chính định lấy định làm thể.

Bát chánh đạo là con đường liên tục không tách rời, trong đó con đường này hỗ trợ cho con đường khác, đó là con đường ma Đức Phật đã trải qua để đi tới conđường tòan giác, thấy được chấp trước và giả cảnh của mình để hướng tới Niết Bàn.

Phật truyện kể lại câu chuyện cuộc đời của Đức Phật, câu truyện này không kết thúc ở cuộc đời Đức phật, bởi vì chính Đức Phật cũng đã trải qua những cuộc đời tiền kiếp, và trong tương lai vẫn có những Đức Phật xúât hiện ở những kiếp khác, theo Đại Thừa, các vị đã đạt vào cõi Niết Bàn nhưng vẫn tình nguyện ở lại trong cõi luân hồi sinh tử để độ cho chúng sinh. Truyện kỳ vẫn phát triển và có tính lan rộng khá xa đến các nền văn hóa nhiều nơi.

Thế kỷ thứ 5 B.C. Phật giáo khai sinh cùng với Đức Phật, trong hai thế kỷ đầu Phật giáo phát triển chủ yếu ở lưu vực sông Hồng Hà, nhưng vào thế kỷ thứ 3 B.C. Phật giáo đã ảnh hưởng tòan bộ Ấn Độ với sự xuất hiện của Quốc Vương Ashoka (272 – 236 B.C.).

Cuộc đời của Quốc Vương Ashoka cũng đầy máu lửa khi chinh phục xứ Kalinga, bao nhiệu sự giết chóc đã làm cho quốc vương phải suy nghĩ về giáo lý của Đức Phật. Chính ông đã thay đổi, sống đời cư sỉ, vào tu viện để sám hối. Sau thời gian này, ông trở về Vương quyền, thay đổi luật pháp, lấy Phật Pháp để cai trị để mưu cầu hòa bình, cho xây rất nhiều Phù Đồ, Tháp, lập các tượng, làm nên một nền văn hóa Phật giáo phong phú. Trong ký ức của các Phật tử, Ashoka chính là Nhị Tổ của Phật giáo.

Phật giáo theo truyền thống lan rộng trong 18 tông phái, trong đó có hai tông phái ảnh hưởng nhiều hơn cả:

Đại Thừa: Mahayana chính là chiếc xe lớn. Trường phái Đại Thừa mở rộng đón tiếp mọi người, trên con đường giác ngộ mọi ngừơi đều bình đẳng, mọi người đều được kêu gọi trong con đường giải thoát. Tuy nhiên, con đường giải thóat ấy có nhiều lối đi, không chỉ là Tăng, Ni, có nhiều lối đi mỗi người theo khả năng của mình có thể sống và lựa chọn để đi tới Niết Bàn. Tông phái Đại Thừa có ảnh hưởng nhiều ở các nước Đông Á.

Tiểu Thừa: Hinayana, nghĩa là chiếc xe nhỏ, quan niệm hẹp hơn, cho rằng người ta chỉ đạt được tới chứng quả A La Hán thôi, con đường đạt tới Niết Bàn chỉ dành cho một số ít người ưu tuyển như Đức Cổ Đàm mà thôi. Sở dĩ có sự thâu hẹp như thế, do các Vị La Hán muốn giữ chân truyền của Đức Phật để lại, và là nhóm tinh hoa, chỉ có họ mới hiểu hết chân pháp của Đức Phật. Từ việc thu hẹp này chịu ảnh hưởng của việc trải rộng nên phát sinh ra con đường Đại Thừa.

Trong Tông phái Đại Thừa có những nhánh học phái quan trọng:

Học phài Du Già luận, tập trung vào tâm điểm của thế giới huyền ảo và hiện thực hóa. Chỉ có một tâm điểm trong hòan vũ, thế giới sinh nghiệm là không chỉ có tri kiến mới là thực. Sau này, các triết gia trong học phái này đồng nhất Tâm đó là Như lai Tâm, nghĩa là cái tâm sinh ra các vị Phật. Vạn vật hữu Phật tính, thực hành Du Già để thấy được căn nguyên Phật tính trong vạn vật đó. Nhận ra Phật tính là đạt tới giác ngộ.

Học phái Trung Quán luận: Học phái này khai sinh với Long Thọ (Nagarjuna 150 – 250 B.C.), một nhà tư tưởng uyên bác. Tư tưởng về: “Chư Pháp thực tướng” và gọi đó là “Chân không vô tướng”. Tất cả vòng luân hồi sinh tử đều là không, cả Niết Bàn cũng là không. Hiểu được chữ không này là đạt tới giác ngộ để nhận ra Phật tính trong chính bản thân mình. Để suy tư vấn đề này, ông đưa ra một phương pháp suy tư: “ngôn ngữ đạo đọan”, có nghĩa là suy luận logic quy giản đến phi lý, để nhận ra rằng trong mọi vấn đề đều có những mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn trong nội tại không chấp nhận nhị nguyên, cho nên chỉ có Một ở bên ngoài thế giới khả niệm, khả giác, hiện tượng, khái niệm và ngôn ngữ. Giác được Một bên ngoài ấy là giải thóat.

Kim Cương Thừa: Vajrayana, tông phái này kế thừa Ấn Độ giáo trong nghi lễ, phụng tự, đồ hình, mật chú, để đạt tới giác ngộ. Con đường giác ngộ này có ảnh hưởng nhiều trong dân chúng, để đưa tới nhiều Vị Phật và Bồ Tát mới, các nam nữ thần, các song thân, như đại diện cho vũ trụ. Đức Cổ Đàm, từ nay có thêm Quan Âm Bồ Tát đại diện cho lượng từ bi, vào Đất Việt có Phật Mẫu Liễu Hạnh, có thêm các Thánh…

Việc phụng thờ đối với Phật giáo không theo nghĩa của việc tôn thờ mà theo nghĩa của việc tự hạ, nhận ra chính mình, bày tỏ lòng biết ơn, kính trọng và sùng mộ với Phật Pháp Tăng. Theo Phật giáo, con đường giải thoát không hệ tại ở việc thờ phụng trong nghi lễ mà hệ ở tại việc tịnh tâm và thực hành giới luật. Chính công việc làm của mỗi người mới quyết định tương lai tối hậu cho mình. Việc dâng cúng từ đó mang một ý nghĩa thể hiện lòng từ bi, hỷ xả giúp người ta khai mở tâm vô ngã và lòng từ bi.. Việc cúi đầu không phải là việc xin tha thứ, xin phước mà là tỏ bày lòng kính trọng, biểu lộ trạng thái trút bỏ tự ngã để quay về căn tính Phật trong lòng mỗi người, điều mà người ta gọi là tâm Phật. Tâm Phật nơi mỗi người hướng họ vể tòan bộ sinh linh, tôn trọng mọi sự sống trên trái đất, vì thế họ tránh sát sinh.

Thiền là một trạng thái trút bỏ cõi mê để tịnh tiến xa bờ dục vọng hầu vượt qua dòng sông luân hồi, tìm đến giải thoát, từ đó, tâm và tuệ được khai mở trong sáng hơn.

Nhìn chung con đường nghi lễ phụng thờ có một chiều hướng trút bỏ nhiều hơn là dừng lại ở việc thờ kính để đổi lấy điều này điều kia. Ai yêu mến Phật Pháp Tăng hãy thực thi theo tâm từ bi của Tam Bảo, chứ đừng tìm tư lợi cho riêng mình mà biến hóa thành một tôn giáo mưu tìm vật chất, danh vọng, thỏa lòng dục, đam mê.

CÁCH ĐẶT PHÁP DANH, PHÁP HIỆU CỦA CHƯ TĂNG PHẬT TỬ VIỆT NAM.

Nguyễn Long Thao9/2/2002

Nếu người Công Giáo Việt Nam có tên “thánh” thì các bậc Chư Tăng và đồng bào Phật Tử có pháp danh, pháp hiệu, pháp tự. Những loại tên đó, chúng tôi tạm gọi là tên tôn giáo của người Việt Nam. Trong bài này ta tìm hiểu cách đặt pháp danh và pháp hiệu của những người theo Phật Giáo Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy.

1. Tên Của Người Theo Phật Giáo Đại Thừa: Những người theo Phật Giáo, ngoài những tên mà một người Việt Nam thường có như tên họ, tên đệm, tên chính, bút hiệu, v.v… còn có pháp danh, pháp tự hay pháp hiệu.

a. Pháp danh: Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn thì pháp danh là tên đạo lý, phàm người được thế độ làm tăng chẳng còn dùng tên họ theo đời mà phải lấy tên theo đạo do vị tôn sư đặt cho mình. Người thọ tam quy, ngũ giới, tu tại gia cũng được mang pháp danh, cũng kêu là pháp hiệu .

Vào năm 1973, chúng tôi được tiếp kiến vị cao tăng tại chùa Long Thiên Tự, xóm Bến Đò, tỉnh Biên Hòa. Ngài đã giải thích pháp danh như sau: Muốn thành người Phật Tử, phải quy y tam bảo, thọ ngũ giới. Vị bổn sư truyền giới sẽ đặt cho người đó một pháp danh, dựa theo bài kệ được truyền tụng trong môn phái của vị bổn sư ấy. Vị cao tăng nói trên thuộc Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Lục Hòa Tăng, môn phái Lâm Tế, có tổ đình Long Thiên Tự ở Biên Hoà, đã đọc cho chúng tôi bài kệ sau đây để dùng trong việc đặt pháp danh cho các đệ tử:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Nguyên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Thổ
Chiếu Thế Sơn Đăng Vạn Cổ Truyền.

Mỗi vị tổ sẽ lần lượt lấy một chữ trong bài kệ trên làm chữ đứng đầu của pháp danh. Chữ đứng sau, vị bổn sư truyền giới tự chọn, nhưng lấy chữ có nghiã gần giống với tên riêng. Thượng Tọa Thích Nguyên Thanh, trụ trì tại xã Tân Sơn Hoà Gia Định, cũng thuộc môn phái Lâm Tế, đã đặt pháp danh cho một đệ tử của mình là Quảng Dũng. Thầy giải thích cho chúng tôi như sau: chữ Quảng lấy trong bài kệ của tổ đình, còn chữ Dũng được chọn vì phật tử đó có tên là Hùng. Mục đích của việc đặt pháp danh là để phân biệt các đệ tử trong cùng một tổ đình, nhưng thuộc thế hệ khác nhau.

Đọc tiểu sử cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Đôn Hậu , người ta cho biết ngài thuộc thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán. Vị tổ khai sơn Thanh Ninh Tâm Tịnh đặt pháp danh cho các đệ tử của ngài là Trừng Nguyên, Trừng Văn, Trừng Thùy, Trừng Huệ; Trừng Thông. Đọc các pháp danh này, ta biết các vị ấy thuộc cùng thế hệ vì có chữ Trừng đứng đầu pháp danh. Ngài Trừng Nguyên tức pháp danh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu. Ngài Trừng Văn tức pháp danh của Hòa Thượng Thích Giác Nguyên. Ngài Trừng Thùy tức Hòa Thượng Thích Giác Nhiên. Ngài Trừng Huệ tức Thượng Tọa Thích Giác Viên. Và ngài Trừng Thông tức pháp danh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết.

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, cách đặt pháp danh của Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam giống lối đặt tên trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Trung Hoa. Xin nêu các ví dụ điển hình: Nếu đọc tác phẩm Cô Gái Đồ Long, ta thấy các vị sư có vai vế cao nhất của phái Thiếu Lâm lúc bấy giờ có các pháp danh là Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn. Dưới thế hệ này là các vị Không Kiến, Không Trí, Không Vân, Không Tướng, Không Như. Dưới nữa là các vị sư Viên Âm, Viên Nghiệp, Viên Chân và thấp nhất là các vị sư Tuệ Phong, Tuệ Thông, Tuệ Quang, Tuệ Hiền.

Các Phật Tử Việt Nam thường lấy pháp danh với các từ ngữ khởi đầu như: Diệu, Tâm, Tuệ hay Huệ, Trí, như Diệu Lan, Diệu Hạnh, Diệu Tâm, Trí Hải, Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Tuệ Quang v.v. Các từ ngữ trong pháp danh hàm chứa ý nghiã rất sâu sắc. Ví dụ chữ diệu, tuệ có ý nghĩa rất cao đẹp, phù hợp với tinh thần Phật Giáo. Tác giả Đoàn Trung Còn giải thích hai chữ diệu và tuệ theo quan điểm Phật Giáo như sau:

Diệu : Tốt đẹp, sáng láng, ngon ngọt, sạch sẽ tinh tế, nhiệm mầu. Những đức ấy nói không xiết, nghĩ không cùng. Tức là cái lý thật tướng vậy. Diệu trái với thô, trược. Diệu tức là thoát khỏi phiền não, ngũ dục của phàm phu, nhơn đó được ngũ diệu của thánh giả.

Huệ: Ngườ Nam Việt đọc là Huệ, người Bắc Việt thường đọc là Tuệ. Ấy là cái đức dụng sáng suốt, thông hiểu sự và lý, dứt được điều lầm lạc và mê muộI, có lòng quyết định, diệt hết sở nghi.

Pháp danh được đặt trong buổi lễ Quy Y rất trang trọng, đầy ý nghiã. Quy y nghiã là hướng về và sống theo Phật, Pháp, Tăng nên trọng tâm của buổi lễ là lúc Phật tử qùy trước Tam Bảo, ba lần phát nguyện xin trọn đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Những lời phát nguyện này được một hay nhiều thầy chứng giám. Trong buổi lễ người quy y xác nhận sự hướng dẫn về các đấng giác ngộ, sống theo đạo lý giác ngộ và sống hòa hợp với các người cùng lý tưởng. Chính vì yếu tố này mà các pháp danh của những người cùng lý tưởng, cùng do một thầy truyền giới, có đặc điểm chung như đã nói ở trên.

b. Pháp hiệu: Khi một Phật tử xuất gia đi tu và được thế độ làm tăng, vị bổn sư sẽ đặt cho vị ấy một pháp hiệu, đôi khi còn gọi là pháp tự. Pháp hiệu là tên chính thức của vị tu sĩ trong suốt cuộc đời hành đạo. Pháp hiệu có ba từ ngữ. Đối với nam tu sĩ, từ ngữ khởi đầu là Thích; với nữ tu sĩ làThích Nữ. Chọn từ ngữ Thích trong pháp hiệu có nghiã là cuộc đời vị tu sĩ ấy đã trọn vẹn dâng hiến và theo đạo pháp của Đức Thiùch Ca Mâu Ni là đấng đã sáng lập ra Phật Giáo. Hai từ ngữ sau trong pháp hiệu do tôn ý của vị trụ trì chùa đó đặt theo môn phái của mình. Ví dụ Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu khi thọ sa di giới tại giới đàn Thuyền Tôn ở Huế, được vị bổn sư đặt pháp danh là Trừng Nguyên, pháp hiệu là Đôn Hậu. Còn thế danh hay tục danh của Ngài là Diệp Trương Thuần. Ở đây ta thấy giữa thế danh của Ngài là Thuần và pháp hiệu Đôn Hậu có ý nghiã liên hệ với nhau. Thuần và Hậu theo từ điển của Đào Duy Anh đều có nghiã là thật thà dầy dặn.

Do kiểu cách đặt pháp hiệu mà người ta biết được mối liên hệ giữa các đệ tử trong cùng tổ đình. Đọc các pháp hiệu của các Thượng Toạ như Thích Thiện Thông, Thích Thiện Đạo, Thích Thiện Hào, Thích Thiện Minh là ta biết các vị này cùng thuộc một tổ đình, một thế hệ vì có chung từ ngữ Thiện. Hoặc đọc tên các Hòa Thượng Thích Giác Nguyên, Thích Giác Viên, Thích Giác Tiên, Thích Giác Nhiên ta biết các ngài thuộc một tổ đình ở chùa Tây Thiên, Huế, thuộc thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán .

Nghiên cứu tên của các bậc Chư Tăng, Phật Tử, ta thấy có lối gọi toàn xưng là lối gọi bao gồm chức vị phối hợp với pháp danh và pháp hiệu. Xin kể một số ví dụ điển hình:

Đại Lão Hoà Thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu, tức ngài Thích Đôn Hậu.
Hoà Thượng Trừng Thùy Giác Nhiên, tức ngài Thích Giác Nhiên.
Thượng Tọa Tâm Phát Trí Siêu, tức ngài Thích Trí siêu.
Sư Bà Tâm Hảo Diệu Không, tức ngài Thích Nữ Diệu Không.
Sư Cô Viên Nghiệp.
Cư sĩ Chơn An Lê Văn Định.

Đọc tên một vị tu sĩ Phật Giáo, ta không biết được vị đó thuộc tông phái nào và thứ cấp trong tông phái ra sao. Sở dĩ như vậy vì mỗi tông phái có một bài kệ riêng và các bài kệ đó nhiều khi có những chữ giống nhau.

2. Tên Của Người Theo Phật Giáo Nguyên Thủy: Pháp danh không quan trọng trong Phật Giáo Nguyên Thủy. Người cư sĩ và giáo sĩ cấp sa di vẫn giữ nguyên tục danh. Pháp danh của các tu sĩ Phật Giáo Nguyên Thủy là tiếng Phạn, nhưng các ngài cũng phiên âm ra tiếng Hán Việt có ý nghiã như tiếng Phạn. Ví dụ: Hoà Thượng Buddhapala gọi là Hộ Giác. Hòa Thượng Supanno là Thiên Tuệ. Hoà Thượng Vansarakkhita là Hộ Tông.

(Trích trong Sơ Thảo Tính Danh Học Việt Nam, sắp xuất bản.) 

Tính danh học Việt Nam: Pháp Danh – Pháp Hiệu – Pháp Tự

Nguyễn Long Thao12/15/2004

TIẾT K. Tên Tôn Giáo: Pháp Danh – Pháp Tự – Pháp Hiệu

Nếu các Chư Tăng và đồng bào Phật tử có pháp danh, pháp hiệu, pháp tự thì đồng bào Công Giáo có tên thánh. Chúng tôi gọi những loại tên này là tên tôn giáo. Trong tiết này, chúng tôi nghiên cứu tên của người theo Phật Giáo Ðại Thừa, Phật Giáo Tiểu Thừa, tên của tín hữu Công Giáo, tên của các vị chức sắc trong Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

1. Tên Của Người Theo Phật Giáo Đại Thừa: Những người theo Phật Giáo, ngoài những tên thông thường như tên chính, tên hiệu v.v…còn có thể có pháp danh, pháp tự, hay pháp hiệu.

a. Pháp danh: Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn: Pháp danh là tên đạo lý, phàm người được thế độ làm tăng chẳng còn dùng tên họ theo đời mà phải lấy tên theo đạo do vị tôn sư đặt cho mình. Người thọ tam quy, ngũ giới, tu tại gia cũng được mang pháp danh, cũng kêu là pháp hiệu.

Vào năm 1973, chúng tôi được tiếp kiến vị cao tăng tại chùa Long Thiên Tự, xóm Bến Đò, tỉnh Biên Hòa. Ngài đã giải thích pháp danh như sau: Muốn thành Phật tử, phải quy y tam bảo, thọ ngũ giới. Vị bổn sư truyền giới sẽ đặt cho người đó một pháp danh, dựa theo bài kệ được truyền trong môn phái của vị bổn sư ấy. Vị cao tăng nói trên thuộc Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Lục Hòa Tăng, môn phái Lâm Tế, có tổ đình Long Thiên Tự ở Biên Hòa, đã đọc cho chúng tôi bài kệ sau đây để dùng trong việc đặt pháp danh cho các đệ tử:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên

Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Nguyên

Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Thổ

Chiếu Thế Sơn Đăng Vạn Cổ Truyền.

Mỗi vị tổ sẽ lần lượt lấy một chữ trong bài kệ trên làm chữ đứng đầu của pháp danh. Chữ đứng sau, vị bổn sư truyền giới tự chọn, nhưng lấy chữ có nghĩa gần giống với tên riêng. Thượng Tọa Thích Nguyên Thanh, trụ trì tại xã Tân Sơn Hòa Gia Định, thuộc môn phái Lâm Tế, đã đặt pháp danh cho một đệ tử của mình là Quảng Dũng. Thầy giải thích như sau: chữ Quảng lấy trong bài kệ của tổ đình, chữ Dũng được chọn vì Phật tử đó có tên là Hùng. Mục đích cách đặt pháp danh này là để phân biệt các đệ tử trong cùng một tổ đình, thuộc thế hệ khác nhau.

Đọc tiểu sử cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, ta được biết ngài thuộc thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán. Vị tổ khai sơn Thanh Ninh Tâm Tịnh đặt pháp danh cho các đệ tử là Trừng Nguyên, Trừng Văn, Trừng Thùy, Trừng Huệ, Trừng Thông. Đọc các pháp danh này, ta biết các vị ấy thuộc cùng thế hệ vì có chữ Trừng đứng đầu pháp danh. Ngài Trừng Nguyên tức Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu. Ngài Trừng Văn tức Hòa Thượng Thích Giác Nguyên. Ngài Trừng Thùy tức Hòa Thượng Thích Giác Nhiên. Ngài Trừng Huệ tức Thượng Tọa Thích Giác Viên. Và Ngài Trừng Thông tức Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết.

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, cách đặt pháp danh của Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam giống lối đặt tên trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Trung Quốc. Xin nêu các ví dụ điển hình: Nếu đọc tác phẩm Cô Gái Đồ Long, ta thấy các vị sư có vai vế cao nhất của phái Thiếu Lâm lúc bấy giờ có các pháp danh là Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn. Dưới thế hệ này là các vị Không Kiến, Không Trí, Không Vân, Không Tướng, Không Như. Dưới nữa là các vị Viên Âm, Viên Nghiệp, Viên Chân, và thấp nhất là các vị sư Tuệ Phong, Tuệ Thông, Tuệ Quang, Tuệ Hiền.

Các Phật tử Việt Nam thường lấy pháp danh với các từ ngữ khởi đầu như: Huệ, Diệu, Tâm, Trí, Tuệ, như Diệu Lan, Diệu Hạnh, Diệu Tâm, Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Tuệ Quang. Các từ ngữ trong pháp danh hàm chứa ý nghĩa rất sâu sắc. Ví dụ chữ Diệu và Tuệ có ý nghĩa cao đẹp, phù hợp với tinh thần Phật Giáo. Tác giả Đoàn Trung Còn giải thích hai chữ Diệu và Tuệ theo quan điểm Phật Giáo như sau:

Diệu: Tốt đẹp, sáng láng, ngon ngọt, sạch sẽ tinh tế, nhiệm mầu. Những đức ấy nói không xiết, nghĩ không cùng. Tức là cái lý thật tướng vậy. Diệu trái với thô, trược. Diệu tức là thoát khỏi phiền não, ngũ dục của phàm phu, nhơn đó được ngũ diệu của thánh giả.

Huệ hay Tuệ: Ðức sáng suốt, thông hiểu sự và lý, dứt điều lầm lạc và mê muội, có lòng quyết định, diệt hết sở nghi .

Pháp danh được đặt trong buổi lễ Quy Y rất trang trọng, đầy ý nghĩa. Quy y nghĩa là hướng về và sống theo Phật, Pháp, Tăng nên trọng tâm của buổi lễ là lúc Phật tử qùy trước Tam Bảo, ba lần phát nguyện xin trọn đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Những lời phát nguyện này được một hay nhiều thầy chứng giám. Trong buổi lễ, người quy y xác nhận sự hướng dẫn về các đấng giác ngộ, sống theo đạo lý giác ngộ và sống hòa hợp với các người cùng lý tưởng. Chính vì yếu tố này mà các pháp danh của những người cùng lý tưởng, cùng do một thầy truyền giới, có đặc điểm chung như đã nói ở trên.

b. Pháp hiệu: Khi một Phật tử xuất gia đi tu và được thế độ làm tăng, vị bổn sư sẽ đặt cho vị ấy một pháp hiệu, đôi khi còn gọi là pháp tự. Pháp hiệu là tên chính thức của vị tu sĩ trong suốt cuộc đời hành đạo. Pháp hiệu có ba từ ngữ. Đối với nam tu sĩ, từ ngữ khởi đầu là Thích, với nữ tu sĩ là Thích Nữ. Chọn từ ngữ Thích trong pháp hiệu có nghĩa là cuộc đời vị tu sĩ ấy đã trọn vẹn dâng hiến và theo đạo pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni là đấng đã sáng lập ra Phật Giáo. Hai từ ngữ sau trong pháp hiệu do tôn ý của vị trụ trì chùa đó đặt theo môn phái của mình. Ví dụ Ðại Lão Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu khi thọ sa di giới tại giới đàn Thuyền Tôn ở Huế, được vị bổn sư đặt cho pháp danh là Trừng Nguyên và pháp hiệu là Ðôn Hậu. Còn thế danh của ngài là Diệp Trương Thuần. Ở đây ta thấy giữa thế danh Thuần và pháp hiệu Ðôn Hậu có sự liên hệ về ý nghĩa. Thuần và Hậu, theo từ điển của Ðào Duy Anh, đều có nghĩa là thực thà dầy dặn. Do kiểu cách đặt pháp hiệu này mà người ta biết được mối liên hệ giữa các đệ tử trong cùng tổ đình. Đọc các pháp hiệu của các Thượng Toạ như Thích Thiện Thông, Thích Thiện Đạo, Thích Thiện Hào, Thích Thiện Minh là ta biết các vị này cùng thuộc một tổ đình, một thế hệ vì có chung từ ngữ Thiện. Hoặc đọc tên các Hòa Thượng Thích Giác Nguyên, Thích Giác Viên, Thích Giác Tiên, Thích Giác Nhiên, ta biết các ngài thuộc một tổ đình ở chùa Tây Thiên, Huế, thuộc thế hệ thứ 8 của pháp Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán.

Nghiên cứu tên của các chư tăng, Phật tử, ta thấy có lối gọi toàn xưng là lối gọi bao gồm Chức Vị + Pháp Danh + Pháp Hiệu. Xin kể một số ví dụ điển hình:

Đại Lão Hòa Thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu, tức ngài Thích Đôn Hậu.

Hòa Thượng Trừng Thùy Giác Nhiên, tức ngài Thích Giác Nhiên.

Thượng Tọa Tâm Phát Trí Siêu, tức ngài Thích Trí siêu.

Sư Bà Tâm Hảo Diệu Không, tức ngài Thích Nữ Diệu Không.

Đọc tên một vị tu sĩ Phật Giáo, ta không biết được vị đó thuộc tông phái nào và thứ cấp trong tông phái ra sao. Sở dĩ như vậy vì mỗi tông phái có một bài kệ riêng và các bài kệ đó nhiều khi có những chữ giống nhau.

2. Tên Của Người Theo Phật Giáo Tiểu Thừa: Pháp danh không quan trọng trong Phật Giáo Tiểu Thừa. Người cư sĩ và giáo sĩ cấp sa di vẫn giữ nguyên tục danh. Pháp danh của các tu sĩ Phật Giáo Tiểu Thừa là tiếng Phạn, nhưng các ngài cũng phiên âm ra tiếng Hán Việt có ý nghĩa như tiếng Phạn. Ví dụ Hòa Thượng Buddhapala gọi là Hộ Giác. Hòa Thượng Supanno là Thiên Tuệ. Hòa Thượng Vansarakkhita là Hộ Tông.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s